Thứ Tư, 30 tháng 4, 2014

Đảng bộ và Nhân dân xã Bãi Trành làm theo lời Bác

Thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh cuộc vận động “ Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, hơn 2 năm qua Đảng bộ xã Bãi Trành đã tích cực triển khai nội dung, tinh thần của Chỉ thị đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn xã. 
Qua đó đã tạo ra được chuyển biến quan trọng cả về nhận thức, việc làm “ theo tấm gương đạo đức của Bác", xuất hiện nhiều mô hình hay mang lại hiệu quả thiết thực góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của địa phương. Đảng bộ xã Bãi Trành có 19 chi bộ với 215 đảng viên, để Chỉ thị 03 - CT/TW của Bộ Chính trị đi vào chiều sâu có sức lan tỏa mạnh mẽ, Đảng bộ xã đã chú trọng đến công tác tuyên truyền sâu rộng đến toàn thể đảng viên, hội viên và nhân dân, đặc biệt là tinh thần tiên phong gương mẫu đi đầu của đảng viên nhất là cán bộ chủ chốt ở các cấp với phương châm đảng viên đi trước làng nước theo sau. Đảng bộ xã thường xuyên đưa các nội dung học tập làm theo tấm gương đạo đức của Bác vào sinh hoạt thường kỳ của các tổ chức đảng và đoàn thể, qua đó đã giúp cho cán bộ, đảng viên, hội viên hiểu sâu về đạo đức, tấm gương của Người. Qua học tập và làm theo tấm gương của Người, đã xuất hiện nhiều điển hình tiêu biểu trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hội Phụ xã điển hình trong toàn huyện về  mô hình phụ nữ tiết kiệm, ống tiền tiết kiệm, phong trào 5 không 3  sạch; Hội Nông dân xã thực hiện tốt phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi; Đoàn thanh niên với phong trào " Tuổi trẻ làm theo lời Bác".. Qua học tập, làm theo tấm gương của Bác, Đảng bộ xã đã lựa chọn những vấn đề trọng tâm, bức xúc để tập trung giải quyết, qua đó đã từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước, trong cải cách hành chính, được nhân dân tin tưởng.
Niềm vui của Nhân dân khi đi trên Đường giao thông nông thôn
Đảng bộ đã chỉ đạo UBND xã rà soát, bổ sung theo quy chế, thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa UBND với các ngành đoàn thể, đồng thời phân công chức năng, nhiệm vụ cho từng thành viên UBND, do đó trách nhiệm trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được phát huy.  Đảng bộ có 100% đảng viên  đăng ký làm theo tấm gương đạo đức của Bác ,tập trung vào việc sửa đổi lề lối làm việc, khắc phục bệnh quan liêu hành chính, những hạn chế tồn tại, nâng cao chất lượng quản lý ... Cùng với việc xây dựng và thực hiện các chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên, Đảng uỷ đã tập trung chỉ đạo nhân dân phát triển kinh tế để giảm nghèo và làm giàu chính đáng. Cơ cấu  kinh tế chuyển dịch đúng hướng, đã từng bước hình thành vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa. Nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng ra sức thi đua sản xuất, đã xuất hiên nhiều điển hình tiêu biểu như bác Nguyễn Văn Yến trong phong trào xây dựng nông thôn mới, bác đã vận động gia đình tự nguyện đóng 3,2 triệu đồng và hiến đất giải phóng mặt bằng, chặt hạ cây cối để thuận tiện cho việc làm đường trong thôn;  gia đình ông Nguyễn Duy Vĩnh thôn Hồ tích cực phát phát triển kinh tế, tập trung trồng rau màu và chăn nuôi,  trừ chi phí mỗi năm còn lãi khoảng 200 triệu đồng..vv. Qua phong trào đã xuất hiện thêm nhiều hộ gia đình có cách làm hay vươn lên thoát nghèo làm giàu chính đáng, đồng thời đã xuất hiện nhiều  mô hình sản xuất  mới, như mô hình nuôi hươu sao, mô hình nuôi bồ câu Pháp…đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, từng bước đã làm thay đổi diện mạo nông thôn mới của xã.
Chăm sóc tốt cây Dưa hấu mang lại hiệu quả kinh tế cao 
          Việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị ở xã Bãi Trành trong những năm qua đã góp phần phát huy tinh thần đoàn kết, dân chủ ở địa phương  . Kinh tế từng bước phát triển, văn hóa xã hội có nhiều khởi sắc, nhân dân tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng do đó đã tích cực đóng góp tiền của, công sức  để xây dựng kết cấu hạ tầng ở địa phương.  Trong hơn 2 năm tổ chức triển khai xây dựng nông thôn mới,  tổng kinh phí huy động của xã ước đạt 11.738 triệu đồng,  trong đó ngân sách nhà nước là 6.438 triệu đồng, số còn lại là do nhân dân đóng góp bằng tiền, ngày công lao động và đã làm được 7,8 km đường giao thông liên thôn thuận tiện cho nhân dân đi lại, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Các trường học cũng được xây dựng khang trang đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học trên địa bàn. Những kết quả đạt được trên của Đảng bộ và nhân dân xã Bãi Trành  đã minh chứng cho việc Đảng bộ đã vận dụng sáng tạo, hiệu quả trong  công tác lãnh đạo đảng viên và nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Kết quả đó cũng được thể hiện trong việc hàng năm Đảng bộ xã có 80% trở lên đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, Đảng bộ liên tục đạt danh hiệu " trong sạch vững mạnh" và được Tỉnh uỷ Thanh Hoá tặng cờ đảng bộ " trong sạch vững mạnh toàn diện" giai đoạn 2005-2010. Đây cũng là tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân xã Bãi Trành phấn đấu hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới vào năm 2015./.

Tiết kiệm trong sản xuất: Nhiều cách làm hiệu quả

Thời gian gần đây, việc tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh đã được đông đảo doanh nghiệp lẫn hộ dân quan tâm. Từ đó, nhiều cách làm hiệu quả ra đời, góp phần đáng kể vào việc giảm giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Tiết kiệm nước tưới trong sản xuất nông nghiệp: Hiệu quả hai trong một


Mô hình tưới phun mưa trên rau ở HTX rau Toàn Thịnh, thị trấn Ea Pôk, huyện Cư M’gar.
Những năm gần đây, do diễn biến bất thường của thời tiết nên sản xuất nông nghiệp ở Dak Lak luôn phải đối mặt với tình trạng khô hạn, thậm chí ngay cả trong mùa mưa. Trong khi đó, hầu hết nông dân sản xuất cà phê thường chỉ tưới nước theo kinh nghiệm, bình quân mỗi vụ, người dân tưới nước khoảng 4-5 lần theo 2 hình thức phun mưa hoặc tưới gốc, với khối lượng nước vượt quá yêu cầu từ 300 – 400 lít cho 1 gốc/lần tưới. Điều này không những gây lãng phí nước mà còn làm suy giảm độ phì nhiêu của đất do nhiều chất dinh dưỡng trong đất bị cuốn theo lượng nước dư thừa.
Trước thực trạng đó, mới đây Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã thực hiện thành công đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật tưới tiết kiệm nước kết hợp bón phân qua nước cho cây cà phê ở Dak Lak” do TS. Lê Ngọc Báu – Viện trưởng – chủ trì. Theo đó, khi áp dụng mô hình tưới tự động này thì lượng nước tưới được phân phối trực tiếp đến từng cây (từ 60-90 lít/giờ) và có thể điều chỉnh theo nhu cầu của vườn cây, từ đó giúp cây cà phê nở hoa tập trung. Đồng thời, kỹ thuật tưới này cũng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón do được bộ phận cấp phân tự động cung cấp trực tiếp đến từng cây cà phê thông qua hệ thống ống dẫn nước.
Theo tính toán, sau khi sử dụng biện pháp tưới nước tiết kiệm này sẽ giúp nông dân tiết kiệm về công bón phân và lượng phân bón so với bón vãi truyền thống từ 1.774.000đ – 2.587.000đ/ha. Ngoài ra, còn hạn chế việc bốc hơi và lượng phân bị chảy trôi trên bề mặt, hạn chế được ô nhiễm môi trường. Về lượng nước, so với phương pháp tưới truyền thống thì kỹ thuật tưới này tiết kiệm được 20%, như vậy mỗi năm Dak Lak sẽ tiết kiệm được khoảng 70,2 triệu m3 nước.
Riêng công tưới nước cho cà phê, nếu tưới theo truyền thống cần khoảng 24 công/ha/năm, còn khi dùng biện pháp tưới tiết kiệm thì giảm được khoảng 15 công/ha/năm. Chỉ tính riêng ở Dak Lak, với diện tích khoảng 195.000 ha, nếu chỉ 10% trong số đó được áp dụng tưới tiết kiệm thì giảm được một lượng công lao động khá lớn, khoảng 292.500 công mỗi năm.
Không chỉ riêng cây cà phê mà cây hoa và rau cũng đang được người nông dân sử dụng biện pháp tưới nước tiết kiệm thông qua công nghệ tưới nhỏ giọt và phun mưa. Qua mô hình thí điểm tại một số hộ trồng rau và hoa trên địa bàn TP. Buôn Ma Thuột và huyện Cư M’gar (thuộc dự án cạnh tranh nông nghiệp Dak Lak) cho thấy: thông qua công nghệ tưới này, cây trồng được cung cấp đủ nhu cầu nước, bộ phận châm phân sẽ hút phân (đã được hòa nước với liều lượng định sẵn) và điều tiết qua hệ thống nhỏ giọt, phân phối đều cho cây.
Nhờ đó, cây được cung cấp phân đầy đủ, không thất thoát, hiệu quả sử dụng phân của cây trồng cũng tăng lên. Công nghệ tưới nhỏ giọt và phun mưa trên rau ăn lá và hoa cũng hạn chế bệnh rất tốt, giảm tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Các hộ tham gia mô hình cho biết, khi áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt và phun mưa sẽ giảm đựơc 90% công lao động (gồm công tưới nước và bón phân); hạn chế được 50 – 70% sâu bệnh trên cây trồng. Chị Nguyễn Thị Vân (tổ dân phố 6, phường Ea Tam, TP. Buôn Ma Thuột) cho biết: từ ngày áp dụng mô hình tưới tự động đến nay, gia đình không thuê thêm người tưới hoa, việc chuyển từ tưới tay sang tưới phun tự động đã giúp chị tiết kiệm rất nhiều thời gian và công lao động, nhờ vậy mà giảm được giá thành sản phẩm, lợi nhuận mang lại được gia tăng.
Có thể thấy, giải pháp tưới nước tiết kiệm không những giúp nông dân tiết kiệm được chi phí đầu tư mà còn giải quyết tối ưu được vấn đề đầu tiên trong sản xuất nông nghiệp là nước tưới. Và điều ý nghĩa nhất của việc áp dụng biện pháp tưới nước tiết kiệm là bảo vệ được sức khỏe cộng đồng, môi trường và giúp sản xuất phát triển bền vững. Tuy nhiên, để những kỹ thuật tưới nước tiết kiệm trên được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, thiết nghĩ, ngành nông nghiệp tỉnh cần xây dựng thêm nhiều mô hình tại các vùng khác nhau để nông dân học hỏi và ứng dụng.

Công ty Cà phê Thắng Lợi: Lợi ích thiết thực từ việc tiết kiệm điện và thay thế chất đốt

Tận dụng nắng trời để phơi cà phê ở Công ty Cà phê Thắng Lợi.
Từ nhiều năm qua, Công ty TNHH Một thành viên Cà phê Thắng Lợi đã triển khai nhiều biện pháp tiết kiệm và mang lại hiệu quả cao, góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Ông Nguyễn Xuân Thái, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc Công ty cho biết: Việc tiết kiệm luôn được Công ty quan tâm thực hiện bằng việc thường xuyên rà soát, đánh giá chi phí của từng khâu, từng bộ phận để xác định đã tiết kiệm hết mức hay chưa, nếu còn lãng phí thì nhất định phải tìm ra giải pháp khắc phục nhằm giảm tối đa chi phí. Nhờ cách làm này, thời gian qua đã có nhiều sáng kiến, giải pháp tiết kiệm được áp dụng vào thực tế sản xuất, góp phần giảm nhiều chi phí. Chẳng hạn, đối với việc sấy cà phê, Công ty đã dùng vỏ cà phê làm chất đốt thay cho củi và than đá.
Trước đây, khi còn dùng than đá và củi làm chất đốt, để sấy mỗi kg cà phê, Công ty phải bỏ ra khoảng 400 đồng tiền chất đốt, nhưng nay chỉ tốn khoảng 120 đồng. Trung bình mỗi năm, Công ty sấy chừng 1.500 tấn cà phê, tính ra số tiền tiết kiệm được từ việc thay thế chất đốt cũng vào khoảng 420 triệu đồng. “Khoản tiền này đủ để trả lương cho cán bộ nhân viên lao động gián tiếp của Công ty trong 1 tháng” – Ông Thái nói. Tương tự, việc sử dụng điện chiếu sáng cũng được tiết kiệm hết mức, ngoài việc yêu cầu cán bộ nhân viên tăng cường sử dụng ánh sáng tự nhiên, sử dụng điện hợp lý… , Công ty còn thay thế bóng đèn néon loại 1,2 mét (40w) bằng bóng tiết kiệm điện Compact (12w), nhờ vậy, điện năng tiêu thụ cũng giảm đáng kể. Khi chưa sử dụng bóng đèn tiết kiệm, riêng chi phí tiền điện chiếu sáng, mỗi tháng Công ty phải trả từ 5 đến 6 triệu đồng, sau khi sử dụng bóng đèn tiết kiệm, mỗi tháng chỉ tốn chừng 1,8 triệu đồng. Đối với điện sản xuất cũng vậy, công ty đã tiến hành thay thế nhiều mô tơ điện có công suất phù hợp với yêu cầu công việc, nên đã hạn chế được tình trạng thiết bị chạy không tải, chỉ tính riêng việc thay thế các mô tơ công suất lớn (36kW/máy) bằng mô tơ nhỏ hơn (loại 16kW) của dây chuyền chế biến cà phê ướt cũng đã tiết kiệm được 50% chi phí tiền điện cho dây chuyền này.
Có thể nói, việc chú trọng tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh đã và đang mang lại cho Công ty Cà phê Thắng Lợi nhiều lợi ích, rõ nhất là giảm chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và thu nhập cho người lao động.
Theo Báo Đaklắk

Hội Nông dân tỉnh với nhiều mô hình kinh tế hiệu quả

(NTO) Nhiều năm qua, Hội Nông dân tỉnh tích cực triển khai nhiều mô hình sản xuất, tạo cơ hội cho nông dân mở hướng làm ăn mới có hiệu quả, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống gia đình.

Gia đình anh Lê Quốc Anh (thôn Tân Hòa, xã Hòa Sơn, huyện Ninh Sơn) có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Tháng 5 vừa qua, anh đăng ký tham gia Dự án “Chăn nuôi bò vỗ béo” của Hội Nông dân tỉnh và được vay 30 triệu đồng. Với số vốn này, cộng với 14 triệu đồng tích cóp được, anh mua 2 cặp bò tơ, xây dựng chuồng trại, trồng cỏ voi làm thức ăn cho bò. Anh còn được cán bộ khuyến nông hướng dẫn vỗ béo bò theo phương pháp bán công nghiệp, nên mới qua 2 tháng nuôi, anh đã bán lãi hơn 14 triệu đồng. Tương tự gia đình anh Anh, gia đình chị Thiệu Thị Phượng, ở thôn Tân Hòa, trước đây chỉ biết chăn nuôi bò theo phương pháp truyền thống, kém hiệu quả.
Nông dân xã An Hải (Ninh Phước) áp dụng mô hình tưới nước tiết kiệm nâng cao hiệu quả sản xuất.
Ảnh: Văn Miên
Tham gia vào dự án, chị Phượng được Hội cho vay 30 triệu đồng có thêm vốn để mua 2 cặp bò tơ, trồng 3 sào cỏ voi, lắp đặt ống dẫn nước từ suối về nhà nuôi bò theo mô hình khép kín bán công nghiệp, nhờ đó bò của gia đình chị phát triển rất nhanh. Chị Phượng phấn khởi cho biết: Với cách nuôi mới này, không những giúp bò tăng cường sức đề kháng mà tăng trọng nhanh gấp 2 lần so với phương pháp cũ. Giá bò tơ lúc mua về 13 triệu đồng/con, đến nay, nếu bán ra mỗi con cho lãi không dưới 5 triệu đồng. Do mang lại hiệu quả kinh tế cao, đến nay, dự án “Chăn nuôi bò vỗ béo” đã được Hội Nông dân tỉnh nhân rộng thực hiện cho 30 hộ nông dân tại 3 xã Hòa Sơn (Ninh Sơn), Phước Hữu (Ninh Phước), Phước Ninh (Thuận Nam), mỗi hộ được vay 30 triệu đồng làm vốn đầu tư mua bò, hướng dẫn kỹ thuật nuôi. Hiện nay, số bò phát triển tốt, qua đó không chỉ tạo việc làm mà còn cải thiện thu nhập đáng kể cho nông dân.
Có dịp đến thăm HTX trồng táo Mỹ Khánh (thôn Khánh Nhơn, xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải), ông Nguyễn Phế, Chủ tịch HTX vui vẻ cho biết: Được sự quan tâm, tạo điều kiện của các ngành các cấp, hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX ngày phát triển. Đặc biệt, từ khi được Hội Nông dân tỉnh triển khai Dự án “Trồng và chăm sóc vườn táo” trên diện tích 10 ha của 40 hộ thành viên của HTX, bà con hết sức phấn khởi. Tham gia dự án, mỗi hộ được Hội cho vay 20 triệu đồng; được tập huấn bồi dưỡng chăm sóc táo theo tiêu chuẩn VietGAP, phương pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời giúp các hộ tiến hành lắp đặt mô hình tưới nước tiết kiệm… qua đó giúp các hộ tiết kiệm thời gian, chi phí đầu tư, công lao động, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Năng suất táo đạt trên 6 tấn/ha, trừ các chi phí sản xuất, trung bình mỗi hộ thu lãi gần 5 triệu đồng/tháng.
Nông dân xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải phát triển diện tích trồng táo, nâng cao thu nhập.
Mô hình “Chăn nuôi bò vỗ béo” và “Chăm sóc vườn táo” chỉ là 2 trong số nhiều mô hình sản xuất hiệu quả do Hội Nông dân triển khai trong những năm qua. Không chỉ chuyển giao khoa học-kỹ thuật cho bà con, thông qua các mô hình, Hội còn giúp cho nhiều hộ nông dân vay vốn với lãi suất thấp, để có thêm nguồn vốn mở rộng sản xuất. Điều đáng ghi nhận hơn nữa chính là ngoài sự hỗ trợ của Hội Nông dân tỉnh, các cấp hội ở cơ sở và bà con đã hết sức linh hoạt, chủ động tìm ra những mô hình phương pháp canh tác mới phù hợp với điều kiện kinh tế, đặc điểm tự nhiên ở địa phương nên đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện đáng kể thu nhập cho gia đình.
Đồng chí Nguyễn Văn Ngọt, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh cho biết: Trên cơ sở kết quả đã đạt được, trong thời gian tới, ngoài việc nhân rộng những mô hình sản xuất có hiệu quả, Hội tiếp tục chủ động phối hợp với các ngành chức năng tìm hiểu, nghiên cứu, tìm ra các mô hình, con giống, cây giống mới có giá trị kinh tế cao để đưa vào sản xuất, giúp nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế gia đình. Đây cũng là việc làm thiết thực góp phần nâng cao vai trò của Hội trong việc thực hiện xây dựng nông thôn mới ở địa phương.
Theo báo Ninh Thuận

Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp

Hiệu quả tưới tự động trong nông nghiệp

Hệ thống tưới tự động phun mưa phủ đều công nghệ Rotator về tổng thể có chi phí hoạt động và duy trì thấp hơn so với các phương pháp tưới bán phần như tưới nhỏ giọt, phun sương, hay tưới vòi truyền thống. Bán kính lớn hơn đồng nghĩa với việc sử dụng ít đầu tưới hơn trên cùng một diện tích ở hệ thống tưới phủ công nghệ Rotator. 

Họng tưới tự động lớn hơn, nên yêu cầu thấp hơn trong việc lọc nước, và hạn chế tắc nghẽn. Hệ thống tưới Rotator thường có độ bền lâu hơn nhiều so với các hệ thống tưới phun mưa bán phần. Thiết bị tưới công nghệ Rotator® đã được cấp bằng sáng chế, và chứng minh trên thực tế với chi phí đầu tư thấp hơn và cho độ bền lâu hơn so với các hệ thống tưới bán phần còn lại.
Những lợi ích cụ thể từ việc tưới phun mưa phủ đều
  • Táo và lê
Hình thành hệ thống rễ lớn, giảm khô héo, tăng tỷ lệ đậu quả
Tạo lớp phủ đất tốt, mang lại nhiều lợi ích ( như đã nói ở trên)
Làm mát cây, tạo màu tự nhiên cho trái, chống rám nắng
Nâng cao chất lượng trái.
  • Cây lấy hạt
Tăng cường thẩm thấu
Giảm bụi
Kiểm soát độ mặn
Giảm khô héo trong quá trình thu hoạch và sản xuất.
  • Anh đào, đào và quả có vỏ cứng
Giảm héo trong quá trình hình thành nụ hoa
Lớp phủ giúp tăng cường thẩm thấu, giữ mát cây trồng
Nâng cao chất lượng.
  • Chanh, cam quýt và bơ
Giảm héo, cải thiện kích cỡ quả
Tăng cường hiệu quả phân bón, thuốc trừ sâu bệnh
Cải thiện chất lượng đất
Tăng thẩm thấu, giảm sâu bệnh hại.
  • Cây thân leo, cây bụi
Lớp phủ giúp chống xói mòn, tạo môi trường sống cho sinh vật có lợi
Làm mát
Giảm bụi
Kiểm soát độ ẩm của đất

Đó là những gì mà tưới tự động mang lại cho nhà nông

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Hiệu quả kinh tế nhờ áp dụng hệ thống tưới tự động ở Long An

SX nông nghiệp của huyện Châu Thành, Long An đã có nhiều bước đột phá về năng suất, chất lượng. Để đạt được kết quả này, thì khâu đầu tiên phải kể đến là việc áp dụng khoa học – kỹ thuật vào SX giúp tăng năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. 

Diện tích trồng thanh long của huyện là 1.200 ha, trong đó hơn 1.100 ha sử dụng trụ bê tông làm giá đỡ và có nhiều diện tích áp dụng biện pháp xông đèn để kích thích ra hoa trái vụ. Một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng của trái thanh long là nước tưới. Trước đây, bà con thường tưới thanh long bằng tay, bằng mô tơ điện, tưới bằng vòi phun tự động một phần… Cách làm này thì thường tốn nhiều công lao động, lượng nước nhiều nên chi phí cao.

Từ thực tế trên, ông Nguyễn Văn Vĩnh – nông dân SXKD giỏi, ấp Long Thành, xã Long Trì, huyện Châu Thành đã tiên phong thử nghiệm công nghệ tưới tự động cho thanh long bằng hệ thống tưới phun sương, vật liệu chính của hệ thống là ống nhựa PE. Hiện tại, ông có khoảng 0,8 ha đất trồng thanh long và hệ thống tưới phun sương này được thử nghiệm cho 0,3 ha.

Ống nhựa PE là loại ống mềm, dạng hình trụ; cấu tạo của toàn bộ hệ thống tưới phun sương nầy gồm 1 mô-tơ điện để bơm nước qua đường ống dẫn chính có đường kính là 49 mm; ống chính này kết nối với ống nhựa PE đường kính 34 mm để dẫn nước đến tưới cho gốc thanh long, trên thân ống nhựa, nhà SX tạo ra các lỗ nhỏ, từ các lỗ nhỏ nầy, nước chịu áp lực từ mô tơ bơm vào, tưới phun cho cây.

Ông cho biết thêm trong thời gian tới sẽ điều chỉnh các lỗ tưới phun vào vị trí gốc thanh long, nước thấm đều hơn, đảm bảo cung cấp đủ nước cho thanh long và giảm tối đa chi phí mà đem lại năng suất cao.

Nước tưới từ ống nhựa PE phun nhuyễn và đều, nước tưới cho cây phun từ bẹ chảy xuống đến gốc thanh long. Theo tính toán của ông Vĩnh thì tổng mức đầu tư hệ thống tưới tự động cho thanh long là khoảng 2,5 triệu đồng cho 1.000 m2 đất trồng thanh long.

Sau khi lắp đặt và đưa vào hoạt động của hệ thống tưới phun đã giảm được 1/3 thời gian tưới, giảm 1/3 điện năng tiêu thụ so với cách tưới thủ công trước đây, điều này đồng nghĩa với việc ông Vĩnh đã giảm được chi phí và công lao động cho SX thanh long. Tuy chỉ mới thử nghiệm, nhưng mô hình đã mang lại hiệu quả, ống nhựa và các vật liệu dễ mua và cách lắp đặt đơn giản nên bà con trồng thanh long có thể tự lắp đặt cho vườn thanh long của mình.

Với giá thành lắp đặt hệ thống tưới phun cho cây thanh long bằng ống nhựa PE khoảng 2,5 triệu đồng cho 1.000 m2 đất trồng thanh long, tương đối phù hợp với khả năng của hộ nông dân trồng thanh long, tưới tự động giúp tiết kiệm và đảm bảo cung cấp đủ nước cho thanh long nhất là vào mùa khô hạn.